Sau đây là những nguyên tắc đưa Thiên Can vào âm dương ngũ hành, cũng như cơ sở đưa Thiên Can lên mặt của la bàn. Thiên Can và Âm Dương có 2 quan hệ là hợp-xung, còn Ngũ Hành gồm 5 yếu tố, có quan hệ sinh khắc. Để mô tả khí âm dương ở trên trời, hoặc mô tả khí âm dương ở dưới đất thì người ta sử dụng khái niệm Thiên Can và Địa Chi để mô tả cho những ngũ hành này. Thiên Can tượng trưng cho trời, được dùng để mô tả các phương hướng và mô tả các khí của bốn phương tám hướng. Dựa trên Thiên Can và Địa Chi, người ta sử dụng: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý là 10 Thiên Can mô tả cho 5 trạng thái ngũ hành và 2 trạng thái âm dương. Như vậy, ta có:
- Giáp và Ất là ngũ hành thuộc Mộc, có khí nằm về vị trí phía Đông, trong đó: Giáp là Dương Mộc, gọi là Giáp Mộc, tượng trưng cho cây rừng lớn; Ất là Âm Mộc, gọi là Ất Mộc tượng trưng cho cây nhỏ, hoa cỏ, cây bụi.
- Bính và Đinh là ngũ hành thuộc Hỏa, có khí nằm về vị trí phía Nam, là nơi Hỏa vượng, trong đó: Bính là Dương Hỏa, gọi là Bính Hỏa, tượng trưng cho mặt trời; Đinh là Âm Hỏa, gọi là Đinh Hỏa, tượng trưng cho chiếc đèn, ngọn đèn nhỏ, ngọn nến, tia sáng.
- Mậu và Kỷ là ngũ hành thuộc Thổ, trong đó: Mậu là Dương Thổ, gọi là Mậu Thổ, tượng trưng cho đất đai rộng lớn, bình nguyên, đê điều, tường thành vững chắc; Kỷ là Âm Kỷ, gọi là Kỷ Thổ, tượng trưng cho đất đồng ruộng, đất trồng trọt, chăn nuôi, những khu đất nhỏ. Mậu, Kỷ có khí ở trung ương, ở Tiên Thiên, khí tựu về một điểm, không phân ra các phương hướng, cho nên khí của Mậu, Kỷ nằm ở Trung Cung hoặc nằm ở chính giữa. Xuống đến Hậu Thiên thì Mậu, Kỷ phân thành hai phương vị là phương Tây Nam và Đông Bắc. Cho nên, khi xét khí của Thổ là người ta xét ở phương vị phía Tây Nam, Đông Bắc và Trung Cung, như vậy khí ở Trung Cung có ngũ hành thuộc Thổ.
- Canh và Tân là ngũ hành thuộc Kim, khí thịnh vượng nằm về vị trí phía Tây, trong đó: Canh là Dương Kim, gọi là Canh Kim, tượng trưng cho đao kiếm lớn hoặc những loại máy móc, những khối kim loại lớn, búa rìu; Tân là Âm Kim, gọi là Tân Kim, tượng trưng cho kim loại nhỏ như trang sức, kim chỉ.
- Nhâm và Quý là ngũ hành thuộc Thủy, khí thịnh vượng ở phương vị phía Bắc, trong đó: Nhâm là Dương Nhâm, gọi là Nhâm Thủy, tượng trưng cho nước của biển lớn, sông ngòi, hồ nước lớn, dòng sông lớn; Quý là Âm Thủy, gọi là Quý Thủy, tượng trưng cho nước mưa, những khe suối, khe rãnh nhỏ.
Như vậy, bằng 10 Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý mà khí của bốn phương tám hướng được thể hiện: phía Đông và Đông Nam tượng trưng cho hành Mộc; phía Nam là hành Hỏa, phía Bắc là hành Thủy, phía Tây Nam, Đông Bắc, Trung Cung là hành Thổ; phía Tây Bắc là hành Kim. Chúng ta sử dụng Thiên Can để mô tả cho những ngũ hành và nguyên tắc vận hành của khí để biết được khí của các Thiên Can di chuyển ở đâu.
—
Về mặt tính chất, do âm dương có tính chất tương hợp, tương sinh, tương khắc, hợp xung nên phần Can Chi cũng có tính chất hợp xung.
Có các cặp Thiên Can hợp hóa sau: Giáp-Kỷ hợp hóa Thổ; Ất-Canh hợp hóa Kim; Bính-Tân hợp hóa Thủy; Đinh-Nhâm hợp hóa Mộc; Mậu-Quý hợp hóa Hỏa.
Có các cặp Thiên Can tương khắc như: Giáp-Canh xung; Ất-Tân xung; Nhâm-Bính xung; Quý-Đinh xung. Xung ở đây là xung âm dương; khắc ở đây là khắc ngũ hành nên ngũ hành tương xung giữa các Thiên Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Còn Mậu, Kỷ do nằm ở giữa, tại Trung Cung nên không có xung, mà lại hình thành khí của trung ương, khi tán ra bốn phương tám hướng còn gọi là khí của Mậu Kỷ đô thiên, tạo thành một cái sát gọi là “Mậu Kỷ đô thiên sát”.
Căn cứ vào các Thiên Can và Địa Chi để phân khí thành ngũ hành bốn phương tám hướng để phân định các phương hướng theo la bàn 24 sơn.


