Ứng dụng lý thuyết sóng Elliot

     Quan sát trong tự nhiên sẽ thấy rằng tự nhiên có những điều rất trùng hợp, phản ánh ngẫu nhiên và tương tác trùng khớp với những biến động trong thị trường chứng khoán, cũng như với những hành động của con người. Do đó, Nelson Elliott là người đã phát minh ra lý thuyết sóng Elliott nhờ quan sát những đợt sóng biển và nhận ra rằng có sự trùng hợp với những biến động về giá trên thị trường chứng khoán. Ông cho rằng, giá của cổ phiếu luôn biến động lên xuống, lặp đi lặp lại theo mô hình sóng. Các mô hình sóng của Elliott diễn ra trùng trùng lớp lớp chồng lấn lên nhau, đây là điểm quan trọng, được dẫn dắt bởi xu hướng dài hạn. Đối với một xu hướng tăng thì mô hình của sóng cũng tăng tích cực và tịnh tiến. Đối với một xu hướng giảm thì mô hình của sóng có xu hướng giảm và thoái lui.

     Mô hình sóng phổ biến nhất của Elliott là mô hình sóng 5-3:

Mô hình sóng 5-3

       Tại sóng đầu tiên, sóng tăng 1, các nhà đầu tư nhỏ lẻ đã thoát khỏi thị trường do không chịu được những đợt giảm giá hoặc những cơn suy thoái kéo dài đã bán ra cổ phiếu. Những người thu mua và gom lại là những tổ chức và nhà đầu tư lớn. Khi họ đã gom cạn cung thì không còn lượng cổ phiếu trôi nổi lưu hành bên ngoài. Lúc này thị trường sẽ có cơn sóng tăng nhẹ tại thời điểm sóng 1. Nói một cách đơn giản, tại thời điểm sóng 1, một số ít nhà đầu tư tìm thấy giá của cổ phiếu thấp hơn giá trị thật nên họ mua vào và hình thành một đợt tăng nhỏ của cổ phiếu đó.

     Lúc này chưa có sự quan tâm nhiều của thị trường, vì vậy khi cổ phiếu tăng lên một đoạn thì các nhà đầu tư đã bán non để chốt lời, hình thành nên một đợt giảm nhẹ. Tuy nhiên, giá cổ phiếu vẫn còn thấp hơn giá trị thật rất nhiều nên giá giảm không đáng kể, sau đó hình thành nên sóng hiệu chỉnh 2 và đáy của sóng 2 không thấp hơn sóng 1, đây là đặc điểm của sóng 2.

     Do cổ phiếu không giảm thêm, các nhà đầu tư lớn vẫn nắm giữ cổ phiếu, các nhà đầu tư nhỏ thấy rẻ nên bắt đầu mua thêm, từ đó hình thành nên sóng 3, đây là sóng tăng mạnh nhất trong mô hình năm sóng tăng của Elliott. Giai đoạn sóng tăng 3 này các nhà đầu tư quan tâm cổ phiếu này rất nhiều, thị trường bắt đầu quan tâm tìm hiểu và các nhà đầu tư mua vào mạnh mẽ. Đồng thời các nhà tạo lập thị trường cũng nhân đợt sóng này đẩy giá tăng cao lên một vùng giá mới, thoát ra khỏi mặt bằng giá thấp. Việc tăng giá như vậy làm cho các nhà đầu tư rất hưng phấn và lạc quan, không khí này lan tỏa ra khắp thị trường, tạo nên sự quan tâm đông đảo của các nhà đầu tư.

      Do cổ phiếu tăng nhanh và quá nóng nên các nhà đầu tư tổ chức và một số cá nhân đã đi trước và chốt lời một phần. Điều này tạo thành sóng giảm 4, có đặc điểm giống như sóng hiệu chỉnh 2. Đáy của sóng 4 không được thấp hơn đỉnh của sóng 1, đây là đặc điểm của mô hình sóng tăng giá này, còn nếu đáy của sóng 4 thấp hơn đỉnh của sóng 1 sẽ chuyển sang mô hình sóng giảm giá.

     Khi kết thúc sóng 4, thị trường tràn ngập những thông tin tốt, các nhà đầu tư  chậm sóng cảm thấy rất nuối tiếc. Đến khi thấy cổ phiếu được điều chỉnh đến mức giá hợp lý thì các nhà đầu tư này sẽ nhanh chóng mua thêm vào. Các nhà đầu tư lạc quan khác cũng tiếp tục mua thêm, đẩy thị trường tăng lên sóng cuối cùng là sóng 5. Tại sóng 5 này, mức lợi nhuận gần như đã thỏa mãn các nhà đầu tư tổ chức cũng như các nhà tạo lập cũng gom được cổ phiếu từ vùng đáy rất thấp và họ tranh thủ bán ra. Khi họ bán ra thì thị trường chỉ còn lại những nhà đầu tư vào chậm, vào sau nên mua phải mức giá rất cao, tại đây xuất hiện hiện tương phân phối tại vùng đỉnh của sóng 5. Khối lượng tăng cao đột biến hoặc duy trì khối lượng rất cao để các nhà đầu tư tạo lập thoát hàng.

     Sau khi thoát hàng thì thị trường bắt đầu giảm giá và chuyển sang mô hình 3 sóng giảm là A-B-C. Tại sóng giảm A, sau khi khối lượng tăng cao và giá sụt giảm nhanh chóng thì còn sót lại những nhà đầu tư nhỏ lẻ còn mắc kẹt, không thoát được do giá giảm quá nhanh.

     Khi giảm đến một mức độ nhất định sẽ có một cú nảy kỹ thuật, tại đây giá sẽ được hồi phục và tạo thành sóng hồi B. Đây là sóng giúp các nhà đầu tư tỉnh táo, còn cơ hội cuối cùng để thoát ra. Những nhà đầu tư trót mua muộn thì đây là lúc còn cơ hội thoát ra chu kỳ giảm của cổ phiếu.

     Sau khi các nhà đầu tư chậm chân thoát được khỏi sóng b thì thị trường sẽ quay trở lại sóng giảm C kéo dài và hình thành nên 3 sóng giảm  A-B-C.

     Nhờ quan sát trên thị trường, chúng ta sẽ thấy đặc điểm chung của sóng Elliott khi xác định sóng và vẽ sóng thì các bước sóng và các mô hình sóng có thể trùng lặp lên nhau trong các chu kỳ. Năm sóng tăng và năm sóng giảm trong chu kỳ nhỏ có thể nằm trong năm sóng của một chu kỳ lớn. Mô hình giảm giá cũng có thể hình thành ngược lại năm sóng giảm và ba sóng tăng.

     Như vậy, điều cốt lõi của lý thuyết sóng Elliott là phải xác định được sóng tăng chính và sóng giảm chính dựa vào các điểm đỉnh và đáy của mỗi mô hình. Đồng thời cũng phải linh hoạt nhìn nhận các mô hình sóng trong mỗi chu kỳ của thị trường để tận dụng, tranh thủ lướt sóng kiếm lời. Mô hình sóng Elliott thường sử dụng cho các nhà đầu tư phân tích kỹ thuật lướt sóng, dựa vào mô hình này để ra vào và mua bán một cách hợp lý.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Xin đừng làm thế