Ứng dụng lý thuyết VSA

     Lý thuyết VSA lần đầu tiên được giới thiệu bởi Richard Wyckoff vào năm 1930, sau đó được Tom Williams phát triển thành một lý thuyết hoàn chỉnh, có hệ thống vào năm 1970, có tên gọi Volume Spread Analysis (VSA). Đây là lý phương pháp phân tích dựa vào đồ thị giá và khối lượng, kèm theo những suy luận về hành vi của các tổ chức đội lái. Nói cách khác, VSA là phương pháp phân tích khối lượng và biến động giá (spread) để xác định độ mạnh yếu của từng thanh bar và mối tương quan của chúng với nhau. Từ đó nhìn ra được xu thế của thị trường và đưa ra quyết định đầu tư.

     Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng như thị trường chứng khoán thế giới, có rất nhiều tổ chức tạo lập hay đội lái đã ứng dụng lý thuyết này và làm giá rất thành công. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cần trang bị kiến thức về VSA để bắt bài các đội lái, tận dụng nắm bắt thời cơ khi cổ phiếu được đẩy giá lên và nhanh chóng thoát ra khi các nhà tạo lập thị trường thoát khỏi cổ phiếu đó.

Bước 1: Đè giá và gom cổ phiếu

     Ở bước này, các nhà tạo lập thị trường sẽ tìm cách mua cổ phiếu gom lại trên thị trường với mức giá rẻ nhất có thể, giá không thể tăng vượt một mức kháng cự nhất định. Thường trong giai đoạn này, giá cổ phiếu sẽ đi ngang hoặc giảm xuống, các nhà đầu tư nhỏ lẻ thường không có sự kiên nhẫn và nôn nóng bán ra, dần dần cổ phiếu lưu hành trên thị trường sẽ bị gom lại.

Bước 2: Đẩy giá

     Sau khi gom được lượng cổ phiếu đủ để khống chế thị trường, các đội lái hoặc các nhà tạo lập sẽ tiến hành bước thứ 2 là đẩy giá. Khi đã kiểm soát được toàn bộ khối lượng cổ phiếu lưu hành bên ngoài, hoặc nắm quyền chi phối trong việc giao dịch cổ phiếu, các đội lại sẽ nhanh chóng đẩy giá tăng rất nhanh, vượt qua rất nhiều mốc kháng cự và vượt ra khỏi nguồn giá tích lũy. Ví dụ, năm 2010, cổ phiếu PVA, ở giai đoạn thu gom, các nhà tạo lập đã liên tục thu gom cổ phiếu này trong khoảng giá từ 15.000-20.000 đồng, khiến giá cổ phiếu không thể tăng ra khỏi mốc 20.000 đồng. Các nhà tạo lập gần như thu gom được toàn bộ số lượng cổ phiếu lưu hành tự do bên ngoài.

     PVA được đẩy từ mức 20.000 đồng tăng một mạch đến 120.000 đồng. Như vậy, giá cổ phiếu đã tăng gấp 6 lần so với mức giá gom cổ phiếu.

     Khi đẩy nhanh như vậy, các nhà đầu tư nhỏ lẻ có rất ít cơ hội để mua theo ở vùng thấp. Các nhà đầu tư thường phải chốt non bán vội hoặc các nhà đầu tư nhỏ lẻ khác do nhìn thấy cổ phiếu tăng giá chóng mặt mà sợ, không dám mua vào. Chính vì vậy, các nhà tạo lập thị trường và các đội lái càng dễ đẩy cổ phiếu lên.

Bước 3: Phân phối cổ phiếu ra thị trường

     Sau khi đã đẩy giá cổ phiếu lên vùng giá rất cao và an toàn, bước tiếp theo của các đội lái là phân phối cổ phiếu ra thị trường và chốt lời. Trong giai đoạn phân phối này, giá cổ phiếu không tăng quá cao, mà chỉ đi ngang trên vùng đỉnh. Tuy nhiên, ngược lại với quá trình 1, khối lượng cổ phiếu tăng rất nhanh. Đây là lúc đội lái và các nhà tạo lập phân phối và bán ra thị trường. Cổ phiếu ở giai đoạn này tăng giảm thất thường để thu hút, câu dẫn những con mồi và những nhà đầu tư tham gia mua vào ở vùng giá này khi họ đã bỏ lỡ sóng tăng rất mạnh vừa qua ở bước 2.

     Để có thể bán ra được trong giai đoạn này, các nhà tạo lập cung cấp ra thị trường rất nhiều thông tin tốt về cổ phiếu, giá cổ phiếu được pr, lan truyền với những thành tích cao và lan truyền thông tin mua cổ phiếu này vào có cơ hội sẽ thu lợi rất lớn trong tương lai. Tuy nhiên, giá cổ phiếu trong giai đoạn này đã vượt quá xa giá thực tế. Những nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin, có lòng tham không tỉnh táo sẽ mua vào và bị kẹt lại trong giai đoạn này.

Bước 4: Đè giá

     Sau khi thoát được hết hành, các nhà tạo lập và các đội lái sẽ nhanh chóng rút khỏi thị trường và đè giá xuống. Giai đoạn này, giá cổ phiếu tuột rất nhanh và không thấy lực cầu ở đâu. Các đội lái sau khi thoát hết hàng sẽ rút tiền và cao chạy xa bay để cổ phiếu lại cho những nhà đầu tư đã lỡ mua vào. Lúc này, giá cổ phiếu rơi tự do không phanh, khiến cho các nhà đầu tư nhỏ không có cách nào thoát ra được.

     Ví dụ, năm 2010, cổ phiếu PVA, ở giai đoạn thu gom, các nhà tạo lập đã liên tục thu gom cổ phiếu này trong khoảng giá từ 15.000-20.000 đồng, đồng thời làm cho giá cổ phiếu không thể tăng ra khỏi mốc 20.000 đồng. Các nhà tạo lập gần như thu gom được toàn bộ số lượng cổ phiếu lưu hành tự do bên ngoài.

     Giai đoạn tiếp theo, cổ phiếu PVA được đẩy từ mức 20.000 đồng tăng một mạch đến 120.000 đồng, giá cổ phiếu đã tăng gấp 6 lần so với mức giá gom cổ phiếu. Đồng thời ngoài thị trường có thông tin rất tốt về cổ phiếu này và giá cổ phiếu tăng giảm thất thường để thu hút những nhà đầu tư. Những nhà tạo lập và các đội lái nhân cơ hội này bán hết ra thị trường.

     Sau đó, các đội lái bán hết cổ phiếu ở mức giá đỉnh 120.000 đồng thì cổ phiếu PVA gần như rơi tự do, không phanh, từ 120.000 đồng cho đến hiện tại chỉ còn 3000-4000 đồng và chưa có cơ hội hồi phục lại so với giá ban đầu. Hầu hết các nhà đầu tư vào muộn đã mất trắng tài sản.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Xin đừng làm thế